Bọn mình vừa nhận được thư, nhận là nhóm P3m nguong với tên người gởi là Hoang my:
linkenfeellix_**@gmail.com với IP là 113.176.***.***
Rất vui khi gặp lại nhóm này nên mình và bà xã reply ngay cùng với những tấm ảnh đã hứa. Tuy nhiên: cả 2 lần gởi thư đều báo lỗi (cả reply lẫn trực tiếp) - lỗi địa chỉ mail trên không tồn tại.
Mình cũng đã thử gởi bằng hộp thư Yahoo nhưng vẫn báo lỗi trên - vào Smart-ip.net test địa chỉ thư linkenfeellix_**@gmail.com cũng gặp thông báo này: "E-mail address "linkenfeellix_**@gmail.com" does not exist": hộp thư không tồn tại.
Mình cho là 2 nguyên nhân:
- Một là nhóm đã gởi thư cho cô chú bằng phần Contact Us phía trên thông qua Foxyform nhưng đã gõ nhầm địa chỉ của chính mình nên không thể nhận lại reply.
- Hai là bạn nào đó đã dùng một địa chỉ email "ma" để nghịch phá. Foxyform chưa thể nhận dạng được địa chỉ thật hay giả nên cho qua luôn (mình đang tìm cách sửa code lại phần này).
Vậy thì:
- Trường hợp một là tụi con, nhóm P3m nguong gởi lại cho cô chú thư khác, nhớ chính xác địa chỉ mail của mình nhé - ảnh của tui con chú đã up sẳn trên host rồi, chỉ chờ người nhận.
- Còn hai là trường hợp bạn nào phá bĩnh: điều này không hay tý nào - thay vì mình loay hoay tìm nguyên nhân reply thất bại thì thời gian đó, mình có thể post lên blog được vài ba bài hay hay...
Nhưng thôi, tất cả chỉ là chuyện nhỏ - tựa như cá tháng tư tập 2. Bọn mình vẫn chờ thư của P3m nguong, thư thiệt nghen.
-
Số 1 về Du lịch: Cung cấp các Chương trình Tour Du Lịch 2016, Dịch vụ Du Lịch, Bán Vé Máy Bay, Cho thuê xe du lịch, Làm Visa, Khách sạn giá rẻ.
Friday, March 30, 2012
Tháng 3 đi hội Phủ Giầy
Cứ vào đầu tháng ba âm lịch hàng năm, du khách xa gần lại nô nức trẩy hội Phủ Giầy, tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Hội Phủ Giầy thực sự hấp dẫn khách bởi sự đan xen, hòa quyện giữa những nghi thức trang trọng cùng những hoạt động văn hóa dân gian sôi nổi, đặc sắc.
Phủ Giầy là nơi thờ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Tục thờ Đức Thánh mẫu có ở khá nhiều nơi như Phố Cát (Thanh Hóa), Đền Sòng (Nghệ An)... Nhưng có lẽ tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nơi Mẫu sinh) là thu hút khách thập phương đông hơn cả.
Phủ Giầy có tên cổ là Kẻ Giầy, sau này được gọi là Phủ Giầy. Ở đây có một hệ thống kiến trúc khá độc đáo, gồm phủ chính, phủ Vân Cát và lăng Chúa Liễu.
Phủ chính là một kiến trúc khá qui mô, gồm ba lớp điện thờ, mặt đều quay về hướng nam, trước điện là giếng tròn và cột cờ, trên sân rộng phía trước có xây các nhà bia, nhà trống, nhà chiêng, kiến trúc kiểu bốn mái hai lớp. Tại làng Vân Cát, cách không xa phủ Giầy có kiến trúc phủ Vân Cát. Phía trước đền có hồ bán nguyệt, nối với bờ bằng cầu đá, chạm trổ rất công phu.
Lăng Chúa Liễu nằm gần phủ Chính, được dựng bằng đá, kiến trúc công phu và rất đẹp, độc đáo. Trung tâm lăng là ngôi mộ hình bát giác, mộ ở thế đất cao, có bốn cửa và bậc thang lên xuống. Xung quanh mộ, còn có tường vây quanh theo kiểu lan can đá, lớp nào cũng có cửa vào ở bốn phía.
Bốn góc của lớp tường vây quanh và hai trụ cửa ra vào đều chạm đá hình nụ sen. Ngoài hai phủ chính và lăng kể trên, xung quanh phủ Giầy còn có nhiều đền miếu, như đền Khâm Sai, đền Công Đồng, đền Thượng, đền Quan, đền Đức Vua, đền Giếng, đền Cây Đa, đình Ông Khổng...
Tất cả quần thể kiến trúc ấy gần như tập trung trong phạm vi xã Kim Thái, xưa là xã An Thái, thuộc huyện Vụ Bản, cách thành phố Nam Định khoảng 15 km. Đó là vùng đồng bằng với những cánh đồng lúa bát ngát, có những ngọn núi đá thấp nằm rải rác, làng mạc trù phú, có dòng sông hiền hòa uốn khúc quanh co, tạo nên cảnh sắc thiên nhiên hài hòa và nên thơ.
Du khách trảy hội Phủ Giầy sẽ được ngắm nhìn một quần thể kiến trúc lăng chùa truyền thống vô cùng độc đáo. Hội Phủ Giầy thực sự hấp dẫn khách bởi sự đan xen, hòa quyện giữa những nghi thức trang trọng cùng những hoạt động văn hóa dân gian sôi nổi, đặc sắc.
Tiêu biểu nhất trong hội Phủ Giầy là nghi lễ rước từ phủ chính (Tiên Hương) lên chùa Gôi vào ngày 6/3. Ðám rước rất trang trọng có đội nhã nhạc, bát âm. Ðến ngày 7/3 sinh hoạt văn hóa "Hoa trượng hội". Ðây là nét độc đáo nhất của lễ hội. Mỗi lần xếp chữ cần khoảng 100 phu cờ, mặc đồng phục, chít khăn đỏ, áo vàng, thắt lưng xanh, quần trắng, xà cạp đỏ. Mỗi người cầm cây gậy dài khoảng 2 mét. Người điều khiển gọi là tổng cờ. Vào cuộc chủ lễ xin chữ sau đó theo nhịp trống chiêng rộn rã xếp thành những dòng chữ nho đầy ý nghĩa.
Hoà trong không khí sinh hoạt văn hóa dân gian, du khách còn được xem rước thỉnh kinh, rước kiệu bát cống long đình, xem múa rồng hội trên núi Tiên Hương.... Và khi màn đêm buông xuống, du khách sẽ được đắm mình trong những điệu hát chầu văn tha thiết cùng những đèn trời được thả lung linh sắc mầu huyền ảo.
Trong những ngày hội, nhân dân còn tổ chức nhiều hình thức vui chơi khác như xem hát tuồng, hát chèo, trống quân, kể cả hát xẩm, ca trù, các hình thức thi đấu mang tính thượng võ, như vật, múa võ, kéo co, đánh cờ, chọi gà...
Ngoài các nghi thức tế, rước sách, kéo chữ, xem biểu diễn... hội phủ Giầy còn là ngày hội Chợ. Nơi đây trong ngày hội, người ta bày bán các sản phẩm của địa phương, người đi xem thường là tiện dịp mua sắm thêm vài thứ vật dụng trong ngày hội. Hội không chỉ là sự thể hiện đời sống tâm linh, thưởng thức sinh hoạt văn hóa mà còn thúc đẩy hoạt động kinh tế, thương mại.
Các mặt hàng bày bán thật đa dạng, phong phú, từ cái kim sợi chỉ, chiếc cần câu, lưới, vó, dậm, nơm để đánh bắt cá. Các loại giường, tủ, bàn, ghế sản phẩm của làng mộc La Xuyên kề cạnh, các loại giầy, dép, các loại đồ đan lát, dụng cụ sản xuất như liềm, cuốc, dao…. Các mặt hàng sơn mài của phủ Giầy vốn có tiếng từ lâu, các loại gỗ khảm trai, các bức hoành phi, câu đối cũng được bán ngoài chợ trong ngày hội.
Vui hội như vậy, nên người nào đã trẩy hội Phủ Giầy một lần là còn muốn đến nữa. Bởi thế, người dân trong vùng đồng bằng Bắc Bộ đã có câu ca:
Còn trời còn nước còn non
Mồng sáu rước Mẫu ta còn đi xem
Ai về nhắn chị cùng em
Bảo nhau dắt díu đi xem hội này.
- Theo Báo Điện tử ĐCSVN, ảnh internet
Phủ Giầy là nơi thờ Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Tục thờ Đức Thánh mẫu có ở khá nhiều nơi như Phố Cát (Thanh Hóa), Đền Sòng (Nghệ An)... Nhưng có lẽ tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định (nơi Mẫu sinh) là thu hút khách thập phương đông hơn cả.
Phủ Giầy có tên cổ là Kẻ Giầy, sau này được gọi là Phủ Giầy. Ở đây có một hệ thống kiến trúc khá độc đáo, gồm phủ chính, phủ Vân Cát và lăng Chúa Liễu.
Phủ chính là một kiến trúc khá qui mô, gồm ba lớp điện thờ, mặt đều quay về hướng nam, trước điện là giếng tròn và cột cờ, trên sân rộng phía trước có xây các nhà bia, nhà trống, nhà chiêng, kiến trúc kiểu bốn mái hai lớp. Tại làng Vân Cát, cách không xa phủ Giầy có kiến trúc phủ Vân Cát. Phía trước đền có hồ bán nguyệt, nối với bờ bằng cầu đá, chạm trổ rất công phu.
Lăng Chúa Liễu nằm gần phủ Chính, được dựng bằng đá, kiến trúc công phu và rất đẹp, độc đáo. Trung tâm lăng là ngôi mộ hình bát giác, mộ ở thế đất cao, có bốn cửa và bậc thang lên xuống. Xung quanh mộ, còn có tường vây quanh theo kiểu lan can đá, lớp nào cũng có cửa vào ở bốn phía.
Bốn góc của lớp tường vây quanh và hai trụ cửa ra vào đều chạm đá hình nụ sen. Ngoài hai phủ chính và lăng kể trên, xung quanh phủ Giầy còn có nhiều đền miếu, như đền Khâm Sai, đền Công Đồng, đền Thượng, đền Quan, đền Đức Vua, đền Giếng, đền Cây Đa, đình Ông Khổng...
Tất cả quần thể kiến trúc ấy gần như tập trung trong phạm vi xã Kim Thái, xưa là xã An Thái, thuộc huyện Vụ Bản, cách thành phố Nam Định khoảng 15 km. Đó là vùng đồng bằng với những cánh đồng lúa bát ngát, có những ngọn núi đá thấp nằm rải rác, làng mạc trù phú, có dòng sông hiền hòa uốn khúc quanh co, tạo nên cảnh sắc thiên nhiên hài hòa và nên thơ.Du khách trảy hội Phủ Giầy sẽ được ngắm nhìn một quần thể kiến trúc lăng chùa truyền thống vô cùng độc đáo. Hội Phủ Giầy thực sự hấp dẫn khách bởi sự đan xen, hòa quyện giữa những nghi thức trang trọng cùng những hoạt động văn hóa dân gian sôi nổi, đặc sắc.
Tiêu biểu nhất trong hội Phủ Giầy là nghi lễ rước từ phủ chính (Tiên Hương) lên chùa Gôi vào ngày 6/3. Ðám rước rất trang trọng có đội nhã nhạc, bát âm. Ðến ngày 7/3 sinh hoạt văn hóa "Hoa trượng hội". Ðây là nét độc đáo nhất của lễ hội. Mỗi lần xếp chữ cần khoảng 100 phu cờ, mặc đồng phục, chít khăn đỏ, áo vàng, thắt lưng xanh, quần trắng, xà cạp đỏ. Mỗi người cầm cây gậy dài khoảng 2 mét. Người điều khiển gọi là tổng cờ. Vào cuộc chủ lễ xin chữ sau đó theo nhịp trống chiêng rộn rã xếp thành những dòng chữ nho đầy ý nghĩa.Hoà trong không khí sinh hoạt văn hóa dân gian, du khách còn được xem rước thỉnh kinh, rước kiệu bát cống long đình, xem múa rồng hội trên núi Tiên Hương.... Và khi màn đêm buông xuống, du khách sẽ được đắm mình trong những điệu hát chầu văn tha thiết cùng những đèn trời được thả lung linh sắc mầu huyền ảo.
Trong những ngày hội, nhân dân còn tổ chức nhiều hình thức vui chơi khác như xem hát tuồng, hát chèo, trống quân, kể cả hát xẩm, ca trù, các hình thức thi đấu mang tính thượng võ, như vật, múa võ, kéo co, đánh cờ, chọi gà...Ngoài các nghi thức tế, rước sách, kéo chữ, xem biểu diễn... hội phủ Giầy còn là ngày hội Chợ. Nơi đây trong ngày hội, người ta bày bán các sản phẩm của địa phương, người đi xem thường là tiện dịp mua sắm thêm vài thứ vật dụng trong ngày hội. Hội không chỉ là sự thể hiện đời sống tâm linh, thưởng thức sinh hoạt văn hóa mà còn thúc đẩy hoạt động kinh tế, thương mại.
Vui hội như vậy, nên người nào đã trẩy hội Phủ Giầy một lần là còn muốn đến nữa. Bởi thế, người dân trong vùng đồng bằng Bắc Bộ đã có câu ca:
Còn trời còn nước còn non
Mồng sáu rước Mẫu ta còn đi xem
Ai về nhắn chị cùng em
Bảo nhau dắt díu đi xem hội này.
- Theo Báo Điện tử ĐCSVN, ảnh internet
Bồng khoai nấu hến quê nhà
Trời mưa lất phất triền miên làm tôi nhớ da diết món canh bồng khoai quê nhà. Trong ký ức của tôi đó là món ăn dân dã mẹ thường nấu từ hồi nhà còn nghèo khó nhưng với tôi luôn ngon đến vô cùng.
Tôi nhớ cứ sau mỗi trận mưa phùn rả rích là mấy đọt bồng khoai lại xanh mướt, mỡ màng. Từ một gốc khoai cái hôm trước còn trơ trọi giờ mọc ra tua tủa những chồi non. Ngọn nào ngọn ấy thi nhau “ngóc đầu” cố gắng vươn dài đón ánh nắng sau những trận mưa.
Nghe các cụ ở quê kể những năm đói khủng khiếp, người ta ăn cả củ chuối, củ khoai nước chỉ để mong cầm cự qua cái đói, và canh bồng khoai cũng là một món như thế.
Mẹ bảo bồng khoai ngon là loại thân ngắn, mập và trắng nõn nà. Mỗi lần mẹ ra ao lấy bồng khoai về cả nhà tôi lại quây quần ngồi tước sạch xơ rồi ngâm vào nước lạnh để bồng khoai không bị thâm. Háo hức tước nhưng ai cũng sợ nhựa bồng khoai làm ngứa và đen tay.
Bồng khoai còn gọi là ngó khoai hay dãi khoai, là những thân khoai non mọc ra từ gốc cây mẹ. Bồng khoai không khó để tìm ở những bờ ruộng, bờ ao hay những bờ đất hoang ẩm ướt. Muốn ăn bồng khoai, người ta chọn bồng non, đầu còn chưa nảy cây, mum múp như búp măng, xanh mỡ màng.
Bồng khoai đã tước rửa sạch, luộc sơ với chút muối, để ráo nước rồi cho vào nồi nấu. Trước kia khi chưa có điều kiện, mẹ thường nấu bồng khoai với mắm tôm, sau này sang hơn mẹ mua thêm cả hến để nấu khiến món ăn càng trở nên hấp dẫn.
Bồng khoai cho vào nấu với nước luộc hến kèm các gia vị mắm tôm, mẻ, ớt, tiêu cho vừa ăn rồi cho lên bếp ninh. Hến rửa sạch, luộc tách lấy nhân con và giữ lại nước. Thịt hến được phi thơm với hành mỡ và cà chua, canh vừa chín tới thì trút thịt hến đã phi thơm vào. Trước khi lấy canh ra bát cho chút rau răm và lá lốt sẽ khiến canh dậy mùi hơn.
Nấu bồng khoai đơn giản mà không dễ vì vừa phải để bồng khoai chín hẳn nhưng lại không chín quá đến mức nhũn, như thế mới thưởng thức được cái sừn sựt của cọng bồng khoai. Đặc biệt, trong khi nấu không được dùng đũa quấy, có như thế khi ăn mới không bị ngứa. Không ai lý giải được tại sao chỉ biết rằng người dân quê tự đúc rút kinh nghiệm đó qua quá trình nấu.
Canh bồng khoai ăn nóng mới ngon, để nguội ăn dễ có cảm giác ngứa cổ. Bát canh sền sệt, quánh lại với vị thanh mát của bồng khoai. Hương vị riêng của mắm tôm, nồng nồng của lá lốt, chua chua của mẻ, ngọt đậm đà của thịt hến lan tận cùng đến khứu giác, khiến ai đã từng ăn một lần sẽ thòm thèm mãi.
Canh bồng khoai ăn đầu hạ thì ít ngứa hơn nhưng không ít người lại thích ăn canh bồng khoai phải hơi ngầm ngậm ngứa, khiến đầu lưỡi tê tê lâm râm như cảm giác của những người thích ăn ớt cay vậy.
Ngày nay món canh bồng khoai không còn là món canh nhà nghèo nữa, ngay tại các chợ thành phố bồng khoai cũng được tước sẵn để bán cho các bà nội trợ. Không phải cao lương mỹ vị nhưng bữa cơm gia đình luôn đầy ắp tiếng cười khi có món canh bồng khoai. Những tháng ngày gian khó xưa theo đó như cũng hiện về trong ký ức mỗi người...
- Theo TTO. internet
Tôi nhớ cứ sau mỗi trận mưa phùn rả rích là mấy đọt bồng khoai lại xanh mướt, mỡ màng. Từ một gốc khoai cái hôm trước còn trơ trọi giờ mọc ra tua tủa những chồi non. Ngọn nào ngọn ấy thi nhau “ngóc đầu” cố gắng vươn dài đón ánh nắng sau những trận mưa.
Nghe các cụ ở quê kể những năm đói khủng khiếp, người ta ăn cả củ chuối, củ khoai nước chỉ để mong cầm cự qua cái đói, và canh bồng khoai cũng là một món như thế.
Mẹ bảo bồng khoai ngon là loại thân ngắn, mập và trắng nõn nà. Mỗi lần mẹ ra ao lấy bồng khoai về cả nhà tôi lại quây quần ngồi tước sạch xơ rồi ngâm vào nước lạnh để bồng khoai không bị thâm. Háo hức tước nhưng ai cũng sợ nhựa bồng khoai làm ngứa và đen tay.
Bồng khoai còn gọi là ngó khoai hay dãi khoai, là những thân khoai non mọc ra từ gốc cây mẹ. Bồng khoai không khó để tìm ở những bờ ruộng, bờ ao hay những bờ đất hoang ẩm ướt. Muốn ăn bồng khoai, người ta chọn bồng non, đầu còn chưa nảy cây, mum múp như búp măng, xanh mỡ màng.
Bồng khoai đã tước rửa sạch, luộc sơ với chút muối, để ráo nước rồi cho vào nồi nấu. Trước kia khi chưa có điều kiện, mẹ thường nấu bồng khoai với mắm tôm, sau này sang hơn mẹ mua thêm cả hến để nấu khiến món ăn càng trở nên hấp dẫn.
Bồng khoai cho vào nấu với nước luộc hến kèm các gia vị mắm tôm, mẻ, ớt, tiêu cho vừa ăn rồi cho lên bếp ninh. Hến rửa sạch, luộc tách lấy nhân con và giữ lại nước. Thịt hến được phi thơm với hành mỡ và cà chua, canh vừa chín tới thì trút thịt hến đã phi thơm vào. Trước khi lấy canh ra bát cho chút rau răm và lá lốt sẽ khiến canh dậy mùi hơn.
Nấu bồng khoai đơn giản mà không dễ vì vừa phải để bồng khoai chín hẳn nhưng lại không chín quá đến mức nhũn, như thế mới thưởng thức được cái sừn sựt của cọng bồng khoai. Đặc biệt, trong khi nấu không được dùng đũa quấy, có như thế khi ăn mới không bị ngứa. Không ai lý giải được tại sao chỉ biết rằng người dân quê tự đúc rút kinh nghiệm đó qua quá trình nấu.
Canh bồng khoai ăn nóng mới ngon, để nguội ăn dễ có cảm giác ngứa cổ. Bát canh sền sệt, quánh lại với vị thanh mát của bồng khoai. Hương vị riêng của mắm tôm, nồng nồng của lá lốt, chua chua của mẻ, ngọt đậm đà của thịt hến lan tận cùng đến khứu giác, khiến ai đã từng ăn một lần sẽ thòm thèm mãi.
Canh bồng khoai ăn đầu hạ thì ít ngứa hơn nhưng không ít người lại thích ăn canh bồng khoai phải hơi ngầm ngậm ngứa, khiến đầu lưỡi tê tê lâm râm như cảm giác của những người thích ăn ớt cay vậy.
Ngày nay món canh bồng khoai không còn là món canh nhà nghèo nữa, ngay tại các chợ thành phố bồng khoai cũng được tước sẵn để bán cho các bà nội trợ. Không phải cao lương mỹ vị nhưng bữa cơm gia đình luôn đầy ắp tiếng cười khi có món canh bồng khoai. Những tháng ngày gian khó xưa theo đó như cũng hiện về trong ký ức mỗi người...
- Theo TTO. internet
Làng Hành Thiện, nơi hội tụ vẻ đẹp Nam Định một thời
Từ thành phố Nam Định, theo con đường chạy dọc những cánh đồng đang vào mùa gặt với mùi khói rơm rạ thoang thoảng khắp không gian, chúng tôi đến với làng Hành Thiện ở huyện Xuân Trường - ngôi làng mà hơn 700 năm trước vốn là những khu vườn cam ngọt của vua chúa nhà Trần.
< Cổng làng cũng cổ kính.
Làng cổ bên sông
Nằm bên bờ sông Ninh Cơ, làng Hành Thiện xưa nay luôn tấp nập như một thị trấn nhỏ. Nhà cửa san sát, đường làng lát gạch đỏ au trong nắng vàng, chợ búa đông vui, hai bờ kênh được kè đá sạch sẽ soi bóng những rặng liễu thướt tha ven bờ. Bản đồ làng Hành Thiện vốn mang hình một con cá chép. Đầu cá là nơi đặt miếu thờ thần Tam giáp, bụng cá là chợ quê nhộn nhịp.
< Sông Ninh Cơ.
Khu dân cư ở từ mang cá đến bụng cá, được chia thành 14 khúc, mỗi khúc gọi là một dong có độ dài đúng 60 mét. Tùy theo chiều còn lại dài ngắn thế nào mà mỗi dong là một hay hai xóm. Ở đầu và cuối mỗi dong có cổng gạch, cửa gỗ lim được làm vừa đẹp, vừa chắc chắn. Phần đuôi cá là nơi tọa lạc của chùa Keo được xây dựng từ năm 1588. Chạy dọc từ đầu tới đuôi cá và xâu chuỗi 14 dong là một con đường trục được lát gạch nghiêng. Đã hàng trăm năm nay, hai bên con đường này là hai dãy cửa hiệu san sát buôn bán sầm uất như một khu phố lâu đời.
Được thành lập từ thời nhà Trần, sau hơn bảy thế kỷ tồn tại, Hành Thiện còn mang đậm nhiều nét đặc trưng của làng quê Việt Nam. Bản hương ước xưa của làng vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Ngôi làng này từ những thế kỷ trước đã nổi tiếng với câu "trai học hành, gái canh cửi". Mỗi khi trong làng có người đỗ đạt, làng thường tổ chức lễ khen thưởng trang trọng. Điều này đã động viên, khích lệ tinh thần học tập của các thế hệ "nho sinh".

< Chùa Keo.
Cũng bởi vậy, ngoài việc là nơi sinh ra nhiều người tài thì Hành Thiện còn là mảnh đất có đời sống yên bình, nề nếp. Nhiều thiết chế văn hóa truyền thống vẫn còn được bảo tồn. Hiện làng vẫn còn hàng trăm ngôi nhà cổ có giá trị mỹ thuật và lịch sử. Nhiều miếu thờ, văn chỉ, võ chỉ đã được khôi phục lại, trong đó nổi tiếng nhất là chùa Keo - điểm đến hành hương hằng năm của khách thập phương.
Chùa Keo Hành Thiện từ lâu đã nổi tiếng bởi cảnh quan đẹp, kiến trúc cổ kính. Phía trước tam quan có hồ bán nguyệt và hòn non bộ theo thế tam sơn, long chầu hổ phục; trên bờ có đôi voi đá khổng lồ, quanh chùa là hàng cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm. Chùa có quy mô bề thế với 13 tòa nhà rộng và 121 gian của các dãy nhà dài, tạo thành những cụm kiến trúc hài hòa, cân đối. Tại đây còn giữ được nhiều mảng chạm khắc mang đậm phong cách thời Hậu Lê và nhiều cổ vật, cổ thư có giá trị như sập thờ, tượng Đại Pháp thiền sư Không Lộ bằng đồng, chuông, khánh đồng, bia ký, hoành phi, câu đối và các sắc phong của nhiều triều đại.

< Đua thuyền hội chùa Keo.
Các nghệ nhân xưa đã dồn toàn bộ trí lực tài hoa để tạo dựng và thể hiện những đường nét chạm khắc tinh vi trên các mảng đố, xà, bảy, kẻ của từng tòa nhà. Ở ba bộ cửa ô tiền đường chùa Phật, mỗi cánh cửa được chạm gỗ với đề tài khác nhau. Kỹ thuật chạm gỗ bong kênh ở mặt tiền hai gian tòa tiền đường đã đạt tới trình độ cao với đề tài vô cùng phong phú: Long cuốn thủy, ly ngậm ngọc, phượng ngậm cành hoa, tứ linh, nghê đội nóc đao...
Đặc biệt hình rồng được thể hiện lúc ẩn lúc hiện ở các trạng thái khác nhau với những đường nét khắc họa tinh vi, sắc sảo, sống động và mềm mại theo phong cách dân gian vùng châu thổ sông Hồng. Sau chùa Phật là đền thiền sư Không Lộ, người đã có công giúp nước, giỏi chữa bệnh lại giỏi cả thơ văn đồng thời là ông tổ nghề đúc đồng và là nhà kiến trúc tài ba.
Hội chùa Keo và thú chơi diều
Hằng năm, tại chùa có hai lần mở hội. Đó là hội Xuân gồm các trò chơi bắt vịt, thi ném pháo, thi nấu cơm và các hình thức văn nghệ dân gian khác. Hội tháng Chín thì ngoài những nghi thức lễ tiết mang tính tôn giáo còn là nơi hội tụ của các sinh hoạt văn hóa tinh thần của cư dân nông nghiệp như lễ dâng hương, cầu cúng, tụng kinh, múa rồng, đua thuyền trên sông Hồng. Chính vì vậy, vào ngày hội khách thập phương đều nô nức kéo nhau về đây: Dù cho cha đánh mẹ treo, Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm. Sau những lễ nghi trang trọng, tiết mục đua thuyền luôn được mọi người đón nhận nồng nhiệt nhất.
Tất cả 15 xóm trong làng đều cử người tham gia đua thuyền, mỗi xóm cử ra mười chàng trai đóng khố, mặc áo nẹp ngắn không tay, đầu chít khăn màu lên một thuyền. Bơi thuyền ở chùa Keo khác với những nơi khác ở chỗ các tay đua không ngồi mà đều đứng để chèo. Vào buổi thi, hàng vạn người đổ ra hai bên bờ sông reo hò cổ vũ hàng chục chiếc thuyền đầy màu sắc lao vun vút giữa dòng nước.
< Múa lân hội Xuân.
Cách đây chưa lâu, làng Hành Thiện còn nổi tiếng với thú chơi diều. Diều hình thoi được gọi là diều hai mom, diều giống hình chim cốc thì gọi là diều cánh cốc. Các diều hai mom và cánh cốc loại dài từ hai mét trở nên đều gắn sáo, có khi được gắn cả một bộ sáo gồm bốn, năm sáo lớn nhỏ. Sáo diều ngân vang trên không trung, dân cả làng đều nghe rõ. Những người mê diều trong làng thường tổ chức các cuộc đua diều để xem diều nào khi đâm lên không bị chao đi chao lại, hoặc để xem diều nào có tiếng sáo hay nhất. Có khi giới chơi diều Hành Thiện tổ chức các cuộc chơi diều vào những ngày có gió lớn.
Diều dự thi cần phải chao qua đảo lại càng nhiều càng tốt, miễn là đừng chao xuống đất và phải tuyệt đối tuân theo sự điều khiển của người cầm dây để có thể bất thần bốc lên cao hoặc từ trên cao bổ xuống để tấn công diều của đối thủ. Diều dự thi thường có hai đầu cánh vót nhọn nếu là diều hai mom, còn nếu là diều cánh cốc thì hai đầu được buộc thêm mỗi đầu một mũi dùi bằng tre vót nhọn.
< Lễ dâng hương.
Các diều tham dự cuộc thi phải có kích thước đồng đều. Ngoài ra, dân làng Hành Thiện còn hưởng ứng thú chơi diều bằng việc làm các kiểu diều phất lụa vẽ hình cá chép, hình chim phượng, hình rồng uốn khúc... nên đã có những khoảng thời gian nền trời Hành Thiện luôn rực rỡ với những cánh diều lụa muôn màu đẹp như các bức tranh bay bổng.
Giờ đây, hội chùa Keo với thú đua thuyền còn đó nhưng thú chơi diều thì đã mai một dần, cũng như trong thôn xóm nhiều ngôi nhà mới xây đã chen giữa mái ngói rêu phong, cổng gạch cổ kính. Không có gì trường tồn mãi với thời gian, nhưng những gì còn lưu giữ được ở làng Hành Thiện vẫn đủ để du khách thấy nao lòng trước vẻ đẹp của một thời xa xưa.
- Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
< Cổng làng cũng cổ kính.
Làng cổ bên sông
Nằm bên bờ sông Ninh Cơ, làng Hành Thiện xưa nay luôn tấp nập như một thị trấn nhỏ. Nhà cửa san sát, đường làng lát gạch đỏ au trong nắng vàng, chợ búa đông vui, hai bờ kênh được kè đá sạch sẽ soi bóng những rặng liễu thướt tha ven bờ. Bản đồ làng Hành Thiện vốn mang hình một con cá chép. Đầu cá là nơi đặt miếu thờ thần Tam giáp, bụng cá là chợ quê nhộn nhịp.
< Sông Ninh Cơ.
Khu dân cư ở từ mang cá đến bụng cá, được chia thành 14 khúc, mỗi khúc gọi là một dong có độ dài đúng 60 mét. Tùy theo chiều còn lại dài ngắn thế nào mà mỗi dong là một hay hai xóm. Ở đầu và cuối mỗi dong có cổng gạch, cửa gỗ lim được làm vừa đẹp, vừa chắc chắn. Phần đuôi cá là nơi tọa lạc của chùa Keo được xây dựng từ năm 1588. Chạy dọc từ đầu tới đuôi cá và xâu chuỗi 14 dong là một con đường trục được lát gạch nghiêng. Đã hàng trăm năm nay, hai bên con đường này là hai dãy cửa hiệu san sát buôn bán sầm uất như một khu phố lâu đời.
Được thành lập từ thời nhà Trần, sau hơn bảy thế kỷ tồn tại, Hành Thiện còn mang đậm nhiều nét đặc trưng của làng quê Việt Nam. Bản hương ước xưa của làng vẫn còn được lưu giữ cho đến ngày nay. Ngôi làng này từ những thế kỷ trước đã nổi tiếng với câu "trai học hành, gái canh cửi". Mỗi khi trong làng có người đỗ đạt, làng thường tổ chức lễ khen thưởng trang trọng. Điều này đã động viên, khích lệ tinh thần học tập của các thế hệ "nho sinh".

< Chùa Keo.
Cũng bởi vậy, ngoài việc là nơi sinh ra nhiều người tài thì Hành Thiện còn là mảnh đất có đời sống yên bình, nề nếp. Nhiều thiết chế văn hóa truyền thống vẫn còn được bảo tồn. Hiện làng vẫn còn hàng trăm ngôi nhà cổ có giá trị mỹ thuật và lịch sử. Nhiều miếu thờ, văn chỉ, võ chỉ đã được khôi phục lại, trong đó nổi tiếng nhất là chùa Keo - điểm đến hành hương hằng năm của khách thập phương.
Chùa Keo Hành Thiện từ lâu đã nổi tiếng bởi cảnh quan đẹp, kiến trúc cổ kính. Phía trước tam quan có hồ bán nguyệt và hòn non bộ theo thế tam sơn, long chầu hổ phục; trên bờ có đôi voi đá khổng lồ, quanh chùa là hàng cây cổ thụ có tuổi đời hàng trăm năm. Chùa có quy mô bề thế với 13 tòa nhà rộng và 121 gian của các dãy nhà dài, tạo thành những cụm kiến trúc hài hòa, cân đối. Tại đây còn giữ được nhiều mảng chạm khắc mang đậm phong cách thời Hậu Lê và nhiều cổ vật, cổ thư có giá trị như sập thờ, tượng Đại Pháp thiền sư Không Lộ bằng đồng, chuông, khánh đồng, bia ký, hoành phi, câu đối và các sắc phong của nhiều triều đại.

< Đua thuyền hội chùa Keo.
Các nghệ nhân xưa đã dồn toàn bộ trí lực tài hoa để tạo dựng và thể hiện những đường nét chạm khắc tinh vi trên các mảng đố, xà, bảy, kẻ của từng tòa nhà. Ở ba bộ cửa ô tiền đường chùa Phật, mỗi cánh cửa được chạm gỗ với đề tài khác nhau. Kỹ thuật chạm gỗ bong kênh ở mặt tiền hai gian tòa tiền đường đã đạt tới trình độ cao với đề tài vô cùng phong phú: Long cuốn thủy, ly ngậm ngọc, phượng ngậm cành hoa, tứ linh, nghê đội nóc đao...
Đặc biệt hình rồng được thể hiện lúc ẩn lúc hiện ở các trạng thái khác nhau với những đường nét khắc họa tinh vi, sắc sảo, sống động và mềm mại theo phong cách dân gian vùng châu thổ sông Hồng. Sau chùa Phật là đền thiền sư Không Lộ, người đã có công giúp nước, giỏi chữa bệnh lại giỏi cả thơ văn đồng thời là ông tổ nghề đúc đồng và là nhà kiến trúc tài ba.
Hội chùa Keo và thú chơi diều
Hằng năm, tại chùa có hai lần mở hội. Đó là hội Xuân gồm các trò chơi bắt vịt, thi ném pháo, thi nấu cơm và các hình thức văn nghệ dân gian khác. Hội tháng Chín thì ngoài những nghi thức lễ tiết mang tính tôn giáo còn là nơi hội tụ của các sinh hoạt văn hóa tinh thần của cư dân nông nghiệp như lễ dâng hương, cầu cúng, tụng kinh, múa rồng, đua thuyền trên sông Hồng. Chính vì vậy, vào ngày hội khách thập phương đều nô nức kéo nhau về đây: Dù cho cha đánh mẹ treo, Em không bỏ hội chùa Keo hôm rằm. Sau những lễ nghi trang trọng, tiết mục đua thuyền luôn được mọi người đón nhận nồng nhiệt nhất.
Tất cả 15 xóm trong làng đều cử người tham gia đua thuyền, mỗi xóm cử ra mười chàng trai đóng khố, mặc áo nẹp ngắn không tay, đầu chít khăn màu lên một thuyền. Bơi thuyền ở chùa Keo khác với những nơi khác ở chỗ các tay đua không ngồi mà đều đứng để chèo. Vào buổi thi, hàng vạn người đổ ra hai bên bờ sông reo hò cổ vũ hàng chục chiếc thuyền đầy màu sắc lao vun vút giữa dòng nước.
< Múa lân hội Xuân.
Cách đây chưa lâu, làng Hành Thiện còn nổi tiếng với thú chơi diều. Diều hình thoi được gọi là diều hai mom, diều giống hình chim cốc thì gọi là diều cánh cốc. Các diều hai mom và cánh cốc loại dài từ hai mét trở nên đều gắn sáo, có khi được gắn cả một bộ sáo gồm bốn, năm sáo lớn nhỏ. Sáo diều ngân vang trên không trung, dân cả làng đều nghe rõ. Những người mê diều trong làng thường tổ chức các cuộc đua diều để xem diều nào khi đâm lên không bị chao đi chao lại, hoặc để xem diều nào có tiếng sáo hay nhất. Có khi giới chơi diều Hành Thiện tổ chức các cuộc chơi diều vào những ngày có gió lớn.
Diều dự thi cần phải chao qua đảo lại càng nhiều càng tốt, miễn là đừng chao xuống đất và phải tuyệt đối tuân theo sự điều khiển của người cầm dây để có thể bất thần bốc lên cao hoặc từ trên cao bổ xuống để tấn công diều của đối thủ. Diều dự thi thường có hai đầu cánh vót nhọn nếu là diều hai mom, còn nếu là diều cánh cốc thì hai đầu được buộc thêm mỗi đầu một mũi dùi bằng tre vót nhọn.
< Lễ dâng hương.
Các diều tham dự cuộc thi phải có kích thước đồng đều. Ngoài ra, dân làng Hành Thiện còn hưởng ứng thú chơi diều bằng việc làm các kiểu diều phất lụa vẽ hình cá chép, hình chim phượng, hình rồng uốn khúc... nên đã có những khoảng thời gian nền trời Hành Thiện luôn rực rỡ với những cánh diều lụa muôn màu đẹp như các bức tranh bay bổng.
Giờ đây, hội chùa Keo với thú đua thuyền còn đó nhưng thú chơi diều thì đã mai một dần, cũng như trong thôn xóm nhiều ngôi nhà mới xây đã chen giữa mái ngói rêu phong, cổng gạch cổ kính. Không có gì trường tồn mãi với thời gian, nhưng những gì còn lưu giữ được ở làng Hành Thiện vẫn đủ để du khách thấy nao lòng trước vẻ đẹp của một thời xa xưa.
- Theo Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần
Về buôn Đôn xem trận cầu... voi.
Hàng ngàn khán giả có mặt tại Buôn Đôn trong chương trình lễ hội văn hóa các dân tộc huyện Buôn Đôn (Đắk Lắk) được chứng kiến những màn đua voi và những “cầu thủ voi” đá bóng.
< Bắt đầu một trận đấu, người ta giao bóng để bắt đầu cuộc đấu...
Từ sáng sớm, từng dòng người và du khách đã đổ về Buôn Đôn, nơi được xem là “cái nôi” của nghệ thuật săn bắt và thuần dưỡng voi rừng để xem những chú voi trổ tài.
< Những màn tăng tốc và tranh bóng giữa sân...
Đầu tiên là phần thi voi đá bóng, những chú voi hùng dũng được chia làm 2 đội, mỗi bên 5 con voi để cùng thì đấu với nhau.
< Voi cũng khéo léo lừa và sút bóng vào gôn...
Những chú voi to lớn được các nài voi khéo léo điều khiển voi dùng chân, vòi để giữ bóng, dẫn bóng và sút bóng. Sau mỗi pha xử lý bóng khéo léo, hấp dẫn của các “cầu thủ voi”, người dân và du khách không ngừng vỗ tay cổ vũ, hò reo.
< Các chú voi đứng trên vạch xuất phát chuẩn bị màn đua voi.
Sau phần thi đá bóng, voi tiếp tục bước vào phần thi chạy nhanh. Tham gia cuộc đua năm nay có 18 voi đến từ các trung tâm, khu du lịch và voi của người dân ở các buôn trên địa bàn huyện Buôn Đôn.
< Cuộc đua voi rất gay cấn, các chú voi tăng tốc...
Cuộc đua diễn ra trên một khu đất rộng rãi, bằng phẳng. Bước vào cuộc đua, các “vận động viên” voi lững thững tiến về vị trí tập kết, xếp thành một hàng ngang dài theo thứ tự, rồi cúi chào khán giả.
< ... và cùng tiến về đích đến...
Mỗi “vận động viên” voi sẽ cõng trên mình một Gru (Nài Voi) ngồi trên cổ, hai chân quặp vào cổ voi và dùng chân điều khiển, một người phụ giúp ở phía sau đuôi.
< Sự tiếc nuối của một nài voi khi thua cuộc.
Ở phần thi này, các nài voi phải thật bình tĩnh, tập trung cao độ để điều khiển, khéo léo đưa Voi mình giành thắng lợi. Khi có lệnh xuất phát, những chú voi nặng nề lay động rồi dũng mãnh lao về phía trước, chiếc vòi cuốn ngược lên trời, tiếng gầm rú vang động.
Nài voi ngồi phía trước liên tục điều khiển thúc voi mình lao nhanh về phía trước. Người giúp việc phía sau, một tay nắm sợi dây giữ cho mình khỏi rơixuống đất, tay kia cầm chiếc búa gỗ, gõ vào mông voi thúc giục voi vượt qua đối phương.
Tiếng trống, tiếng chiêng nổi lên dồn dập cùng với tiếng cổ vũ, hò reo của du khách thúc giục những vận động viên khổng lồ của núi rừng lao thật nhanh.
< Nài voi và voi vô địch cúi chào khán giả.
Trong chương trình lễ hội năm nay, bên cạnh môn thi voi đá bóng, voi chạy đua sẽ còn nhiều môn thi khác như: thi voi vượt sông, tái hiện nghệ thuật săn bắt và thuần dưỡng voi rừng… sẽ tiếp tục diễn ra trong các ngày còn lại.
- Theo Dantri
< Bắt đầu một trận đấu, người ta giao bóng để bắt đầu cuộc đấu...
Từ sáng sớm, từng dòng người và du khách đã đổ về Buôn Đôn, nơi được xem là “cái nôi” của nghệ thuật săn bắt và thuần dưỡng voi rừng để xem những chú voi trổ tài.
< Những màn tăng tốc và tranh bóng giữa sân...
Đầu tiên là phần thi voi đá bóng, những chú voi hùng dũng được chia làm 2 đội, mỗi bên 5 con voi để cùng thì đấu với nhau.
< Voi cũng khéo léo lừa và sút bóng vào gôn...
Những chú voi to lớn được các nài voi khéo léo điều khiển voi dùng chân, vòi để giữ bóng, dẫn bóng và sút bóng. Sau mỗi pha xử lý bóng khéo léo, hấp dẫn của các “cầu thủ voi”, người dân và du khách không ngừng vỗ tay cổ vũ, hò reo.
< Các chú voi đứng trên vạch xuất phát chuẩn bị màn đua voi.
Sau phần thi đá bóng, voi tiếp tục bước vào phần thi chạy nhanh. Tham gia cuộc đua năm nay có 18 voi đến từ các trung tâm, khu du lịch và voi của người dân ở các buôn trên địa bàn huyện Buôn Đôn.
< Cuộc đua voi rất gay cấn, các chú voi tăng tốc...
Cuộc đua diễn ra trên một khu đất rộng rãi, bằng phẳng. Bước vào cuộc đua, các “vận động viên” voi lững thững tiến về vị trí tập kết, xếp thành một hàng ngang dài theo thứ tự, rồi cúi chào khán giả.
< ... và cùng tiến về đích đến...
Mỗi “vận động viên” voi sẽ cõng trên mình một Gru (Nài Voi) ngồi trên cổ, hai chân quặp vào cổ voi và dùng chân điều khiển, một người phụ giúp ở phía sau đuôi.
< Sự tiếc nuối của một nài voi khi thua cuộc.
Ở phần thi này, các nài voi phải thật bình tĩnh, tập trung cao độ để điều khiển, khéo léo đưa Voi mình giành thắng lợi. Khi có lệnh xuất phát, những chú voi nặng nề lay động rồi dũng mãnh lao về phía trước, chiếc vòi cuốn ngược lên trời, tiếng gầm rú vang động.
Nài voi ngồi phía trước liên tục điều khiển thúc voi mình lao nhanh về phía trước. Người giúp việc phía sau, một tay nắm sợi dây giữ cho mình khỏi rơixuống đất, tay kia cầm chiếc búa gỗ, gõ vào mông voi thúc giục voi vượt qua đối phương.
Tiếng trống, tiếng chiêng nổi lên dồn dập cùng với tiếng cổ vũ, hò reo của du khách thúc giục những vận động viên khổng lồ của núi rừng lao thật nhanh.
< Nài voi và voi vô địch cúi chào khán giả.
Trong chương trình lễ hội năm nay, bên cạnh môn thi voi đá bóng, voi chạy đua sẽ còn nhiều môn thi khác như: thi voi vượt sông, tái hiện nghệ thuật săn bắt và thuần dưỡng voi rừng… sẽ tiếp tục diễn ra trong các ngày còn lại.
- Theo Dantri
Dận trìa trên Phá Tam Giang
Với những cư dân vùng phá Tam Giang thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế, nghề dận trìa (ngao) dành cho những người cơ cực nhất, những người không đủ điều kiện để làm nò sáo, chài lưới kiếm con tôm, cá.
< Những phụ nữ khó khăn nhất với hành trang chỉ có chiếc hộp xốp đựng trìa, ngày công của họ thường chỉ đạt 50.000-60.000 đồng/ngày.
Người làm nghề dận trìa chỉ cần chiếc thuyền nan giá chừng 1 triệu đồng, ít hơn nữa là chiếc hộp xốp để đựng trìa. Làm nghề dận trìa cần thêm khả năng dầm nước cả chục giờ mỗi ngày trong mưa gió, trong nắng lửa trên đầu và nước lạnh dưới chân. Suốt buổi, bàn chân của người đi dận trìa mò mẫm trong bùn để tìm trìa rồi cặp lấy đưa lên mặt nước.
< Những người khá hơn, khỏe hơn có chiếc thuyền đi “xa bờ” mỗi ngày kiếm được 100.000 – 150.000 đồng.
< Ngón chân cặp trìa đưa lên mặt nước.
Một ngày đầm nước như thế, họ có được từ 50.000 -150.000 đồng tùy theo sự khéo léo và chủ yếu theo sức khỏe của con người. Cơ cực bậc nhất nhưng họ có niềm vui là con cái thường ngoan và học giỏi.
< Bữa cơm trưa trên mặt nước của bà Nguyễn Thị Gái (70 tuổi) ở thị trấn Sịa chỉ có cơm với muối, thêm nhiều ớt ăn cho đỡ lạnh.
Trong số hơn trăm người làm nghề dận trìa ở thị trấn Sịa và xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền, ước tính có đến một nửa đang có con học đại học.
< Chị Nguyễn Thị Thương (47 tuổi) dận trìa kiếm tiền nuôi 2 con ăn học.
Trong danh sách những học sinh giỏi cấp quốc gia, thủ khoa các trường đại học, mấy năm gần đây năm nào cũng có con em những người dận trìa.
< Vợ chồng anh Nguyễn Thành và chị Hoàng Thị Xưng dận trìa nuôi 3 con học tại 2 trường đại học và 1 trường cao đẳng.
- Theo Danviet
< Những phụ nữ khó khăn nhất với hành trang chỉ có chiếc hộp xốp đựng trìa, ngày công của họ thường chỉ đạt 50.000-60.000 đồng/ngày.
Người làm nghề dận trìa chỉ cần chiếc thuyền nan giá chừng 1 triệu đồng, ít hơn nữa là chiếc hộp xốp để đựng trìa. Làm nghề dận trìa cần thêm khả năng dầm nước cả chục giờ mỗi ngày trong mưa gió, trong nắng lửa trên đầu và nước lạnh dưới chân. Suốt buổi, bàn chân của người đi dận trìa mò mẫm trong bùn để tìm trìa rồi cặp lấy đưa lên mặt nước.
< Những người khá hơn, khỏe hơn có chiếc thuyền đi “xa bờ” mỗi ngày kiếm được 100.000 – 150.000 đồng.
< Ngón chân cặp trìa đưa lên mặt nước.
Một ngày đầm nước như thế, họ có được từ 50.000 -150.000 đồng tùy theo sự khéo léo và chủ yếu theo sức khỏe của con người. Cơ cực bậc nhất nhưng họ có niềm vui là con cái thường ngoan và học giỏi.
< Bữa cơm trưa trên mặt nước của bà Nguyễn Thị Gái (70 tuổi) ở thị trấn Sịa chỉ có cơm với muối, thêm nhiều ớt ăn cho đỡ lạnh.
Trong số hơn trăm người làm nghề dận trìa ở thị trấn Sịa và xã Quảng Lợi, huyện Quảng Điền, ước tính có đến một nửa đang có con học đại học.
< Chị Nguyễn Thị Thương (47 tuổi) dận trìa kiếm tiền nuôi 2 con ăn học.
Trong danh sách những học sinh giỏi cấp quốc gia, thủ khoa các trường đại học, mấy năm gần đây năm nào cũng có con em những người dận trìa.
< Vợ chồng anh Nguyễn Thành và chị Hoàng Thị Xưng dận trìa nuôi 3 con học tại 2 trường đại học và 1 trường cao đẳng.
- Theo Danviet
Say tình Vàng Pheo
Thung lũng rộng nằm ngay dưới chân dãy núi Phu Nhọ Khọ, nơi có dòng Nậm So, Nậm Lùm uốn mình bồi đắp tít tận miệt Phong Thổ (Lai Châu) có tên gọi Vàng Pheo, thuộc xã Mường So. Đó là mảnh đất hiền lành của hơn 400 đồng bào dân tộc Thái trắng hội tụ, tạo nên những sắc thái văn hoá đặc trưng vùng Tây Bắc.
Với bản sắc văn hóa đặc trưng và khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, hữu tình, bản Vàng Pheo (xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu) đang được biết đến như một điểm du lịch cộng đồng hấp dẫn với tên gọi “Thung lũng mỹ nhân” của vùng Tây Bắc.
Từ thị xã Lai Châu, đi theo quốc lộ 12 khoảng 30km về phía bắc, du khách sẽ tới bản Vàng Pheo. Nằm ở vị trí tuyệt đẹp, lưng tựa vào dãy núi Phu Nhọ Khọ - nơi gặp gỡ của hai dòng suối Nậm So và Nậm Lùm, mặt hướng ra cánh đồng mênh mông, trù phú, bản Vàng Pheo mang một vẻ đẹp thuần khiết như hoa ban trên núi và được ví như viên ngọc quý vùng Tây Bắc.
Bản có 90 hộ dân với khoảng 400 nhân khẩu, đều là người dân tộc Thái trắng. Ấn tượng đầu tiên khi du khách đặt chân đến bản là khung cảnh bản làng yên bình với những nếp nhà sàn truyền thống và người phụ nữ Thái xinh tươi trong trang phục áo cóm cổ liền dài đến thắt lưng, váy màu đen tuyền dài chấm mắt cá chân.
Theo quan niệm của người Thái trắng ở Tây Bắc, nhà sàn phải được dựng theo tiêu chí “sơn chầu thủy tụ” (lưng tựa vào đồi, núi; mặt hướng ra sông, suối hoặc cánh đồng). Nhà được làm bằng gỗ tốt, tre hoặc hóp với bốn mái thẳng gấp góc được lợp bằng cỏ gianh, bao gồm hai tầng.
Tầng trên dành cho các sinh hoạt của gia đình chủ nhà và để tiếp khách, tầng dưới là nơi để các nông cụ sản xuất, gỗ, củi... Hiện nay, dân bản đã xây thêm một ngôi nhà sàn văn hóa phục vụ các sinh hoạt cộng đồng. Đây là ngôi nhà có kiến trúc giống nhà sàn truyền thống nhưng mái nhà lợp ngói, gỗ làm nhà có màu sáng hơn.
Cùng với những nếp nhà sàn truyền thống, người Thái trắng ở đây còn gìn giữ nguyên vẹn nhiều lễ hội văn hóa đặc trưng, hình thành nên tập quán riêng trong đời sống sinh hoạt cũng như lao động sản xuất hàng ngày của họ. Mỗi lễ hội là một bức tranh miêu tả đời sống xã hội của đồng bào Thái trắng xứ Mường So, tiêu biểu như: lễ hội Nàng Han (15/2 âm lịch), lễ hội Then Kin Pang (10/3 âm lịch), lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu (15/9 âm lịch)…
Khi lễ hội diễn ra, ngoài các nghi lễ truyền thống, còn có nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa của người Thái trắng được tổ chức như: múa quạt; múa xòe; trò chơi tó má lẹ, ném còn, đẩy gậy, tù lu, đánh yến, bắt cá suối…
Đồng bào Thái trắng sống chủ yếu bằng nghề chăn nuôi, trồng trọt, đặc biệt là nghề trồng bông, dệt vải. Muốn làm ra 1 tấm vải phải tốn khá nhiều công sức. Cũng bởi thế mà từ xưa đến nay, người dân nơi đây đều lấy tiêu chí này để đánh giá các thiếu nữ khi bắt đầu bước sang độ tuổi trăng rằm có chăm chỉ, siêng năng hay không. Trước khi đi lấy chồng, thiếu nữ nào càng dệt được nhiều tấm vải thì càng được trân trọng. Với óc sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo, đồng bào Thái trắng ở Vàng Pheo đã làm ra những tấm vải với mẫu mã đa dạng, hoa văn tinh tế, tạo nên nét đẹp văn hóa riêng so với các dân tộc thiểu số khác.
Bất chấp dòng chảy thời gian, văn hóa của người Thái trắng ở Vàng Pheo vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn từ những ngôi nhà sàn truyền thống đến những bộ váy của người phụ nữ Thái trắng được thiết kế cầu kỳ, váy khâu liền màu đen tuyền, dài chấm mắt cá chân, áo cóm chấm đến thắt lưng, cổ liền... Lễ hội văn hóa của người Thái ở Vàng Pheo là một trong những nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng được đông đảo người dân và du khách quan tâm.
Mỗi lễ hội là một bức tranh miêu tả đời sống xã hội, mang những nét đặc trưng truyền thống của đồng bào Thái xứ Mường So, tiêu biểu như các lễ hội: Nàng Han (rằm tháng 2 âm lịch), Then Kin Pang (mùng 10/3 âm lịch), Kin Lẩu Khẩu Mẩu (rằm tháng 9 âm lịch)… trong các lễ hội ngoài các nghi thức lễ còn diễn ra nhiều trò chơi dân gian độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa trong đời sống sinh hoạt của người dân như: tó má lẹ, ném còn, đẩy gậy, tù lu…
Đến với Vàng Pheo, ngoài dịp chiêm ngưỡng khung cảnh thiên nhiên đặc trưng vùng Tây Bắc, du khách còn có dịp trải nghiệm các sinh hoạt hàng ngày cùng dân bản như: nấu các món ăn truyền thống (sâu đá, rêu đá, cá bống vùi tro, cá suối nướng, măng đắng, măng ngọt, thịt trâu sấy, thịt lợn hấp, canh rau đắng…); chăm sóc gia súc, gia cầm; lên rừng lấy củi; xuống suối bắt cá; xe tơ; dệt vải hay tham gia các hoạt động văn hóa như: múa xòe, múa quạt, hát dân ca Thái, nhảy sạp,
Đêm, trời Tây Bắc điểm sao, trăng treo đỉnh núi, các sơn nữ đội xoè Vàng Pheo tay nắm chặt tay, váy đen xúng xính, chân bước uyển chuyển theo tiếng tính tẩu véo von, tiếng trống gõ nhịp nhàng ở sân nhà văn hoá. Vừa múa, các sơn nữ vừa cất lên tiếng hát da diết gọi bạn tình. Những câu hát gọi bạn càng về khuya càng thêm nồng, điệu xoè càng uyển chuyển
- Theo Dulich Danviet, internet
Với bản sắc văn hóa đặc trưng và khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, hữu tình, bản Vàng Pheo (xã Mường So, huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu) đang được biết đến như một điểm du lịch cộng đồng hấp dẫn với tên gọi “Thung lũng mỹ nhân” của vùng Tây Bắc.
Từ thị xã Lai Châu, đi theo quốc lộ 12 khoảng 30km về phía bắc, du khách sẽ tới bản Vàng Pheo. Nằm ở vị trí tuyệt đẹp, lưng tựa vào dãy núi Phu Nhọ Khọ - nơi gặp gỡ của hai dòng suối Nậm So và Nậm Lùm, mặt hướng ra cánh đồng mênh mông, trù phú, bản Vàng Pheo mang một vẻ đẹp thuần khiết như hoa ban trên núi và được ví như viên ngọc quý vùng Tây Bắc.
Bản có 90 hộ dân với khoảng 400 nhân khẩu, đều là người dân tộc Thái trắng. Ấn tượng đầu tiên khi du khách đặt chân đến bản là khung cảnh bản làng yên bình với những nếp nhà sàn truyền thống và người phụ nữ Thái xinh tươi trong trang phục áo cóm cổ liền dài đến thắt lưng, váy màu đen tuyền dài chấm mắt cá chân.
Theo quan niệm của người Thái trắng ở Tây Bắc, nhà sàn phải được dựng theo tiêu chí “sơn chầu thủy tụ” (lưng tựa vào đồi, núi; mặt hướng ra sông, suối hoặc cánh đồng). Nhà được làm bằng gỗ tốt, tre hoặc hóp với bốn mái thẳng gấp góc được lợp bằng cỏ gianh, bao gồm hai tầng.
Tầng trên dành cho các sinh hoạt của gia đình chủ nhà và để tiếp khách, tầng dưới là nơi để các nông cụ sản xuất, gỗ, củi... Hiện nay, dân bản đã xây thêm một ngôi nhà sàn văn hóa phục vụ các sinh hoạt cộng đồng. Đây là ngôi nhà có kiến trúc giống nhà sàn truyền thống nhưng mái nhà lợp ngói, gỗ làm nhà có màu sáng hơn.
Cùng với những nếp nhà sàn truyền thống, người Thái trắng ở đây còn gìn giữ nguyên vẹn nhiều lễ hội văn hóa đặc trưng, hình thành nên tập quán riêng trong đời sống sinh hoạt cũng như lao động sản xuất hàng ngày của họ. Mỗi lễ hội là một bức tranh miêu tả đời sống xã hội của đồng bào Thái trắng xứ Mường So, tiêu biểu như: lễ hội Nàng Han (15/2 âm lịch), lễ hội Then Kin Pang (10/3 âm lịch), lễ hội Kin Lẩu Khẩu Mẩu (15/9 âm lịch)…
Khi lễ hội diễn ra, ngoài các nghi lễ truyền thống, còn có nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, trò chơi dân gian mang đậm bản sắc văn hóa của người Thái trắng được tổ chức như: múa quạt; múa xòe; trò chơi tó má lẹ, ném còn, đẩy gậy, tù lu, đánh yến, bắt cá suối…Đồng bào Thái trắng sống chủ yếu bằng nghề chăn nuôi, trồng trọt, đặc biệt là nghề trồng bông, dệt vải. Muốn làm ra 1 tấm vải phải tốn khá nhiều công sức. Cũng bởi thế mà từ xưa đến nay, người dân nơi đây đều lấy tiêu chí này để đánh giá các thiếu nữ khi bắt đầu bước sang độ tuổi trăng rằm có chăm chỉ, siêng năng hay không. Trước khi đi lấy chồng, thiếu nữ nào càng dệt được nhiều tấm vải thì càng được trân trọng. Với óc sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo, đồng bào Thái trắng ở Vàng Pheo đã làm ra những tấm vải với mẫu mã đa dạng, hoa văn tinh tế, tạo nên nét đẹp văn hóa riêng so với các dân tộc thiểu số khác.
Bất chấp dòng chảy thời gian, văn hóa của người Thái trắng ở Vàng Pheo vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn từ những ngôi nhà sàn truyền thống đến những bộ váy của người phụ nữ Thái trắng được thiết kế cầu kỳ, váy khâu liền màu đen tuyền, dài chấm mắt cá chân, áo cóm chấm đến thắt lưng, cổ liền... Lễ hội văn hóa của người Thái ở Vàng Pheo là một trong những nét sinh hoạt văn hóa cộng đồng được đông đảo người dân và du khách quan tâm.Mỗi lễ hội là một bức tranh miêu tả đời sống xã hội, mang những nét đặc trưng truyền thống của đồng bào Thái xứ Mường So, tiêu biểu như các lễ hội: Nàng Han (rằm tháng 2 âm lịch), Then Kin Pang (mùng 10/3 âm lịch), Kin Lẩu Khẩu Mẩu (rằm tháng 9 âm lịch)… trong các lễ hội ngoài các nghi thức lễ còn diễn ra nhiều trò chơi dân gian độc đáo mang đậm bản sắc văn hóa trong đời sống sinh hoạt của người dân như: tó má lẹ, ném còn, đẩy gậy, tù lu…
Đến với Vàng Pheo, ngoài dịp chiêm ngưỡng khung cảnh thiên nhiên đặc trưng vùng Tây Bắc, du khách còn có dịp trải nghiệm các sinh hoạt hàng ngày cùng dân bản như: nấu các món ăn truyền thống (sâu đá, rêu đá, cá bống vùi tro, cá suối nướng, măng đắng, măng ngọt, thịt trâu sấy, thịt lợn hấp, canh rau đắng…); chăm sóc gia súc, gia cầm; lên rừng lấy củi; xuống suối bắt cá; xe tơ; dệt vải hay tham gia các hoạt động văn hóa như: múa xòe, múa quạt, hát dân ca Thái, nhảy sạp,
Đêm, trời Tây Bắc điểm sao, trăng treo đỉnh núi, các sơn nữ đội xoè Vàng Pheo tay nắm chặt tay, váy đen xúng xính, chân bước uyển chuyển theo tiếng tính tẩu véo von, tiếng trống gõ nhịp nhàng ở sân nhà văn hoá. Vừa múa, các sơn nữ vừa cất lên tiếng hát da diết gọi bạn tình. Những câu hát gọi bạn càng về khuya càng thêm nồng, điệu xoè càng uyển chuyển
- Theo Dulich Danviet, internet
Subscribe to:
Posts (Atom)







.jpg)











.jpg)

